BLOOD SUGAR CONTROL (Hỗ trợ ổn định đường huyết)

Giúp ổn định đường huyết và ngăn ngừa các bệnh liên quan đến đường huyết như đái tháo đường, tim mạch…

Dạng bào chế:
Viên nang


Quy cách đóng gói:
Lọ 60 viên

Giá :

BẠN CẦN GIÚP ĐỠ ?

HOTLINE: 0917 55 70 88
- Địa chỉ công ty: 49A30 Phan Đăng Lưu,
Phường 7, Quận Phú Nhuận, Tp. Hồ Chí Minh, Việt Nam.
- Email: info@lynhfarma.com

BLOOD SUGAR CONTROL giúp ổn định đường huyết và ngăn ngừa các bệnh liên quan đến đường huyết như đái tháo đường, tim mạch…

Thực phẩm chức năng: BLOOD SUGAR CONTROL đã được cấp giấy xác nhận công bố phù hợp quy định ATTP tại Việt Nam.
ĐỐI TƯỢNG SỬ DỤNG:
  • Người trên 18 tuổi gặp vấn đề về đường huyết.
  • Người muốn duy trì hệ đường huyết khỏe mạnh.
LIỀU DÙNG & TÁC DỤNG:
  • 01 viên mỗi ngày, dùng kèm cùng bữa ăn.
CHÚ Ý: Sản phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh.

==========================================
Nhà phân phối: CÔNG TY TNHH LYNH FARMA

49A30 Phan Đăng Lưu, Phường 7, Quận Phú Nhuận, Tp. HCM.

Tel: +84 8 3510 87 57             Fax: +84 8 3510 87 56

THÀNH PHẦN:

Vitamin C 50mg, Vitamin E 15 IU, Biotin 300mcg, Magie 125mg, Kẽm 7.5mg, Mangan 1 mcg, Crom 67mcg, Quế 75mg, Chiết xuất mướp đắng 50mg, Chiết xuất cam thảo 50mg, Lá dây thìa canh 50mg, Axit Alpha Lipoic 30mg, Cỏ thi 25mg, Bách xù 25mg, L-Taurine 25mg, Chiết xuất lá chuối 1% 25mg, Chiết xuất Guggle 12.5mg, Cayenne 10mg, Vanadium 10mcg

Vitamin C: là một chất chống oxy hóa mạnh giúp bảo vệ chống lại các gốc tự do trong cơ thể. Vitamin này cũng cần thiết cho việc sản xuất collagen, vì vậy nó tăng cường các mạch máu và hỗ trợ lưu lượng máu khỏe mạnh. Vitamin C là một liệu pháp tuyệt vời cho các bệnh khác thường cùng tồn tại ở những người sống chung với bệnh tiểu đường: cao huyết áp.

Vitamin E: Hầu hết những người bị bệnh tiểu đường có liên quan về lượng đường trong máu, nhưng họ cũng nên quan tâm đến các vấn đề về bệnh tim mạch bởi vì đó là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu. 40% bệnh nhân tiểu đường có biến thể gen làm tăng nguy cơ oxy hóa và tăng gấp đôi hoặc gấp ba nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Vitamin E và các chất chống oxy hóa khác có thể giúp giảm nguy cơ bệnh tim mạch và các biến chứng ở những người bị bệnh tiểu đường. Nghiên cứu cho thấy chất chống oxy hóa có thể giúp kiểm soát lượng đường trong máu và mức cholesterol thấp hơn ở những người bị bệnh tiểu đường loại 2, trong khi bảo vệ chống lại các biến chứng của tổn thương mắt (võng mạc) và tổn thương thận ở những người có bệnh tiểu đường type 1.

Biotin: Biotin là một vitamin nhóm B cần thiết cho sự tăng trưởng tế bào và sự trao đổi chất của protein, chất béo và carbohydrates. Vitamin này cũng được chứng minh là làm giảm lượng đường trong máu lúc đói và giảm nguy cơ biến chứng như bệnh thần kinh đái tháo đường.

Ma giê: Magiê là một đồng yếu tố trong hơn 300 hệ thống enzyme điều tiết các phản ứng sinh hóa đa dạng trong cơ thể, bao gồm tổng hợp protein, cơ bắp và chức năng thần kinh, kiểm soát đường huyết, huyết áp và điều tiết.

Kẽm: Kẽm cải thiện việc kiểm soát đường huyết ở bệnh tiểu đường loại 1 và loại 2. Kẽm thúc đẩy sản xuất isulin và giúp cải thiện mức độ glucose trong máu. Kẽm phát huy tác dụng tương tự insulin bằng cách hỗ trợ việc dẫn truyền tín hiệu của insulin và giảm việc sản xuất các cytokin – nguyên nhân phá hủy tế bào beta khi tuyến tụy bị viêm trong quá trình của bệnh. Tuyến tụy là một tuyến nội tiết có trách nhiệm sản xuất nhiều kích thích tố, bao gồm cả insulin. Các insulin được sản xuất bởi các tế bào beta dưới sự hỗ trợ đắc lực của kẽm.

Mangan: Mangan là một khoáng chất vi lượng chiếm một lượng nhỏ trong cơ thể. Mangan là một thành phần của các chất chống oxy hóa enzyme superoxide dismutase (SOD), giúp chống lại các gốc tự do. Các gốc tự do xuất hiện tự nhiên trong cơ thể nhưng có thể gây tổn hại màng tế bào và DNA. Chúng cũng góp phần trong quá trình lão hóa, cũng như sự phát triển của một số bệnh như tim mạch và ung thư. Chất chống oxy hóa, chẳng hạn như SOD, giúp trung hòa các gốc tự do và làm giảm hoặc thậm chí giúp ngăn ngừa một số thiệt hại do gốc tự do gây ra.

Chromium (Crom): Chức năng quan trọng nhất của Crom là giúp điều chỉnh lượng glucose trong máu. Insulin cũng có vai trò trong quá trình này, đó là điều hòa sự di chuyển của glucose từ máu vào các tế bào. Crom là thành phần quan trọng của các hợp chất mang tên yếu tố dung nạp glucose (GTF). Vi chất này giúp tăng cường hiệu quả của insulin, thúc đẩy glucose xâm nhập vào tế bào, nơi nó được đốt cháy tạo nhiên liệu. Crom tham gia vào quá trình chuyển hóa glucose thông qua tăng cường tác dụng của insulin. Insulin liên kết với các thụ thể insulin trên bề mặt tế bào, kích hoạt những thụ thể và kích thích sự hấp thu glucose của tế bào. Thông qua sự tương tác của nó với các thụ thể insulin, insulin cung cấp glucose năng lượng cho tế bào và ngăn chặn lượng đường trong máu đạt mức cao. Tích tụ glucose trong máu có liên quan với những thay đổi bất lợi trong lipid và tăng thách thức đối với sức khỏe tim mạch. Một số nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung crom trên lipid đã quan sát thấy sự giảm cholesterol tổng trong huyết thanh, cholesterol LDL và triglyceride.

Quế: Flavonoid có trong quế có thể bắt chước các hoạt động của insulin và hiệp đồng với insulin trong cơ thể nhằm giúp điều hòa lượng đường trong máu hiệu quả hơn.

Cây mướp đắng: Mướp đắng, còn gọi là khổ qua hoặc karela (ở Ấn Độ), là một loại rau quả duy nhất mà được sử dụng làm thực phẩm hoặc thuốc. Mướp đắng là một cây thuộc họ nho Cucurbitaceae, ăn được và được coi là đắng nhất trong số tất cả các loại rau quả. Quả mướp đắng có chứa ít nhất ba hoạt chất có đặc tính chống bệnh tiểu đường, trong đó charantin, được kiểm chứng có tác dụng hạ đường huyết, vicine và một hợp chất giống insulin được gọi là polypeptide-p. Các hoạt chất này có thể tác động độc lập hoặc cùng nhau, giúp làm giảm lượng đường trong máu. Biết rằng mướp đắng có chứa một lectin làm giảm nồng độ glucose trong máu bằng cách tác động vào các mô ngoại biên và ức chế sự thèm ăn – tương tự như những tác động của insulin trong não. Lectin này được coi là nhân tố chính trong tác dụng hạ đường huyết sau khi ăn mướp đắng.

Cam thảo: Cam thảo (Glycyrrhiza glabra) đã được sử dụng làm thực phẩm và làm thuốc từ hàng ngàn năm nay. Còn được gọi là “rễ ngọt”, rễ cam thảo có chứa một hợp chất ngọt hơn đường khoảng 50 lần. Trong cả Đông và Tây y đều sử dụng rễ cam thảo để điều trị một loạt các bệnh, từ cảm lạnh thông thường đến bệnh về gan. Nó hoạt động như một chất giảm viêm, giảm đau, và như chất long đờm, giúp loại bỏ đờm. Ảnh hưởng có lợi cho sức khỏa dựa trên thực tế là các phân tử amorfrutin di chuyển trực tiếp vào một thụ thể trong hạt nhân gọi là PPARγ. PPARγ có vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hóa chất béo và glucose của tế bào. Sự liên kết của các phân tử amorfrutin kích hoạt các gen khác nhau, làm giảm nồng độ axit béo và glucose trong huyết tương. Giảm glucose ngăn ngừa sự phát triển kháng insulin – nguyên nhân chính của bệnh tiểu đường ở người lớn. Có một enzyme gọi là corticosteroid isozyme 11-β-dehydrogenase 2 có thể chuyển đổi cortisol thành chất chuyển hóa không hoạt động cortisone. (Cortisol là một hormone steroid thượng thận, vẫn gọi là hormone chống hoặc chạy). Aldosterone, một hormone steroid thượng thận khác, giúp điều hòa huyết áp. Cortisol có ái lực với cả hai thụ thể (glucocorticoid) và thụ thể của aldosterone (mineralocorticoid), và có nhiều cortisol nổi khắp nơi trên cơ thể hơn là aldosterone. Đây là lý do tại sao cần bất hoạt cortisol bởi các enzyme, do đó không được quá nặng nề với các thụ thể corticoid vi chất và ảnh hưởng huyết áp.

Cam thảo ức chế enzyme này. Do đó cam thảo giữ cortisol lâu hơn. Đây là lý do tại sao một số người sử dụng cam thảo để điều trị khi tuyến thượng thận khi có vấn đề, về lý thuyết giúp tách khả năng sản sinh từ cortisol.

Dây thìa canh: Dây thìa canh là một cây bụi thân gỗ có nguồn gốc từ Ấn Độ và Châu Phi. Sử dụng lá để làm thuốc. Y học cổ tuyền Ấn Độ từ lâu đã sử dụng Dây thìa canh . Tên Tiếng Hindi là gurmar, có nghĩa là “kẻ diệt đường”. Gymnema có chứa những chất làm giảm sự hấp thu đường từ ruột. Dây thìa canh cũng có thể làm tăng lượng insulin trong cơ thể và làm tăng sự phát triển của các tế bào trong tuyến tụy, là nơi thực hiện sản sinh insulin trong cơ thể. Lá của Dây thìa canh chứa axit gymnemic, có tác dụng làm chậm việc vận chuyển glucose từ ruột vào máu.

Cỏ thi: Cỏ thi như một loại thảo dược làm se da và, hợp chất thơm nhẹ, cũng có thể được sử dụng như một loại thuốc bổ hoặc chất kích thích. Nó được coi như một loại thảo dược chữa bệnh vì có các tính chất làm đông máu. Sterol và stanols thực vật đã được chứng minh có tác dụng làm giảm cholesterol xấu, ngăn chặn sự hấp thụ trong cơ thể. Lợi ích của cỏ thi trong việc giảm cholesterol được mô tả như là một thủ thuật trên đường tiêu hóa. Các phytosterol thực vật cũng tương tự như cholesterol được tìm thấy trong cơ thể chúng ta. Những thủ thuật gia này cắt cholesterol và chiếm vị trí của nó, do đó ngăn ngừa cơ thể hấp thụ các cholesterol xấu bị. Sự tráo đổi thú vị này diễn ra ở cấp độ phân tử khiến cho cỏ thi trở thành thành phần phổ biến giảm cholesterol, ghi nhận trong báo cáo của sterols và stanols.

Cây bách xù: Quả bách xù là quả của một loại cây bụi ngắn mọc khắp bán cầu bắc. Trong thời Trung cổ, người ta tin rằng hương thơm của quả cây bách xù có thể tránh nhiễm trùng, bao gồm cả bệnh dịch hạch, bệnh phong. Các hoạt chất trong dầu của quả bách xù có thể giúp làm giảm co thắt dạ dày và đường ruột. Nó cũng giúp hòa tan và loại bỏ axit uric ra khỏi cơ thể, rất hữu ích trong việc điều trị sỏi thận, bao gồm các axit uric. Quả cây bách xù cũng được cho là giúp giảm lượng đường trong máu. Nếu uống với số lượng nhỏ, nó có thể giúp tăng sự thèm ăn, và giúp giảm xung huyết liên quan đến hen suyễn.

L-Taurine: Taurine (axit 2-aminoethanesulfonic) là một axit amin tự do tìm thấy dễ dàng ở cấp độ millimolar trong tất cả các mô của động vật có vú. Taurine tác động đến một loạt các hoạt động sinh học, bao gồm chống oxy hóa, điều hòa di chuyển ion, điều hòa thẩm thấu, điều hòa các dẫn truyền thần kinh, và sự kết hợp của các axit mật, duy trì trạng thái cân bằng sinh lý. Gần đây, dữ liệu tích lũy cho thấy hiệu quả của taurine trong chống bệnh đái tháo đường, kháng insulin và các biến chứng của nó, bao gồm cả bệnh võng mạc, bệnh thận, bệnh thần kinh, xơ vữa động mạch và bệnh cơ tim, độc lập với tác dụng hạ đường huyết ở một số thí nghiệm động vật. Taurine giảm sản phẩm peoxy hóa lipid plasma ở  bệnh đái tháo đường Tuýp 1. Taurine có thể ảnh hưởng (và có thể đảo ngược) các khiếm khuyết trong máu thần kinh, tốc độ truyền dẫn dây thần kinh vận động, các ngưỡng cảm giác thần kinh ở chuột thí nghiệm thần kinh tiểu đường. Ở chuột bị tiểu đường, taurine giảm đáng kể trọng lượng và giảm lượng đường trong máu. Tương tự như vậy, hỗ trợ taurine cho thỏ bị tiểu đường dẫn đến giảm 30% nồng độ glucose huyết thanh. Theo các nghiên cứu duy nhất trên con người, liều lượng 1,5 g taurine hàng ngày không có ảnh hưởng đáng kể đến sự tiết insulin hay sự nhạy cảm insulin. Có bằng chứng rằng taurine có thể gây một tác dụng có lợi trong việc ngăn ngừa bệnh lý mao mạch do tiểu đường và bệnh lý thận tubulointerstitial do tiểu đường. Taurine đóng vai trò như một chất ức chế glycation. Chuột tiểu đường được điều trị Taurine đã giảm sự hình thành của các sản phẩm cuối glycation nâng cao (AGEs) và thành phần AGEs. Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ đã tìm thấy mối liên hệ giữa bệnh đục thủy tinh thể và các cấp thấp hơn của vitamin B6, folate, và taurine trong chế độ ăn của người cao tuổi.

Lá chuối (Acid Corosolic): Axit Corosolic có thể làm giảm lượng đường trong máu trong vòng 60 phút ở con người. Axit Corosolic cũng trthể hiện tác dụng chống tăng lipid máu, chất chống oxy hóa, kháng viêm, kháng nấm, kháng virus, chống ung thư và các hoạt động tạo cốt bào. Các tác dụng có lợi của chuối và axit corosolic đối với các khía cạnh khác nhau của glucose và chuyển hóa lipid liên quan đến nhiều cơ chế, bao gồm tăng cường sự hấp thu tế bào của glucose, thủy phân suy giảm của sucroza và tinh bột, giảm sự hình thành glucoza trong cơ thể và cân bằng chuyển hoá lipid. Các hiệu ứng này thực hiện thông qua PPAR, MAP K, NF-κB và các yếu tố truyền tín hiệu khác. Axit Corosolic gây chuyển vị GLUT4 ở tiểu đường Tuýp 2. Axit Corosolic có thể cải thiện insulin. Hoạt động của insulin qua trung gian photpharyl hóa tyrosine và được khởi xướng bởi các ràng buộc của insulin với thụ thể insulin. Axit Corosolic có thể hoạt động như một chất mẫn cảm insulin, tăng cường photpharyl hóa B thụ thể insulin gián tiếp bằng cách ức chế photphataza protein tyrosin phi thụ thể nhất định. 13 Axit Corosolic  cũng có thể tăng cường quá trình vận chuyển glucose GLUT4 của hấp thu glucose vào tế bào cơ bắp. 14 Nghiên cứu khác cũng ghi nhận rằng acid corosolic ức chế sự hình thành glucoza trong cơ thể bằng cách tăng sản xuất của trung gian tân tạo glucose fructose-2,6-bisphosphate trong tế bào gan bị cô lập. Axit Corosolic có thể thúc đẩy phân hủy đường.

Axit alpha – lipoic: Axit alpha – lipoic là một chất chống oxy hóa do cơ thể tạo ra. Axit alpha – lipoic  giúp chuyển glucose thành năng lượng và được tìm thấy trong mọi tế bào. Chất chống oxy hóa tấn công  các gốc tự do-  chất thải tạo ra khi cơ thể chuyển hóa thực phẩm thành năng lượng. Các gốc tự do gây ra các phản ứng hóa học có hại cho các tế bào trong cơ thể, làm giảm chức năng chống nhiễm trùng. Ngoài ra, chúng còn phá hủy các cơ quan và các mô. Các chất chống oxy hóa khác chỉ hoạt động trong nước (như vitamin C) hoặc mô mỡ (như vitamin E) , nhưng axit alpha – lipoic là chất chống oxi hóa hoạt động được trong cả nước và mô mỡ. Do vậy, Axit alpha – lipoic có thể hoạt động hiệu quả ở mọi nơi trên cơ thể. Trong các tế bào, axit alpha – lipoic được chuyển thành axit dihydrolipoic. Axit alpha – lipoic giúp lượng đường trong máu thấp hơn. Axit alpha – lipoic có thể tiêu diệt các gốc tự do –  nguyên nhân gây ra tiểu đường và các bệnh lý thần kinh ngoại vi tiểu đường như đau, rát, ngứa ran, tê tay và chân do tổn thương thần kinh. Tiêm axit alpha – lipoic tĩnh mạch đã được sử dụng trong nhiều năm để điều trị bệnh thần kinh ngoại vi ở Đức. Uống axit alpha – lipoic có thể giúp điều trị các bệnh liên quan đến tiểu đường được khác như các bệnh thần kinh tự trị. Sở dĩ axit alpha – lipoic có thể trợ giúp với các chức năng não và đột quỵ, vì nó có thể hoạt động dễ dàng ở não, giúp bảo vệ não bộ và thần kinh mô. Các nhà nghiên cứu đang tìm hiểu nó như là một khả năng điều trị đột quỵ và các vấn đề khác liên quan đến não do tác hại của gốc tự do, ví dụ như chứng mất trí.

Cayenne: Hạt tiêu Cayenne có chứa vitamin A, B, E, C, cũng như kali và riboflavin. Ngoài hương vị cay để làm gia vị, Cayenne cũng có thể làm tăng lưu thông máu , điều đặc biệt quan trọng với những người có bệnh tiểu đường.

Guggle Gum: Guggulipid và axit commipheric xuất hiện để kích hoạt một hormone gọi là thụ thể sản sinh peroxisome – kích hoạt gamma ( PPARg ) – là hormone quy định sự phát triển phù hợp, sự trưởng thành và duy trì chức năng của các tế bào mỡ hình thành mỡ, chất béo, các mô trong cơ thể chúng ta . Các tế bào mỡ tiết ra một số hormone quan trọng  với quá trình chuyển hóa lành mạnh glucose và cholesterol . Béo phì gây tăng sinh bất thường tế bào mỡ chưa trưởng thành, có thể dẫn đến thiếu hụt hoặc cản trở hoạt động của PPARg, dẫn đến rối loạn chức năng bài tiết hormone do các tế bào chất béo . Những sự mất cân bằng nội tiết tố có thể gây ra sự phát triển của các bệnh như tiểu đường và béo phì, điều này lại làm trầm trọng thêm sự mất cân bằng hormone và tình trạng béo phì, dẫn đến hội chứng chuyển hóa rất khó điều trị.

Vanadium: Vi chất độc đáo này có tác dụng làm giảm lượng đường trong máu bằng cách bắt chước insulin và cải thiện độ nhạy của tế bào đối với insulin. Vanadi, đặt theo tên của nữ thần sắc đẹp NaUy Vanadis, nằm trong nhóm các kim loại sinh học quan trọng được gọi là phân tử chuyển tiếp. Những kim loại này có xu hướng tự nhiên để tạo ra các phức chất với hợp chất hữu cơ, được gọi là hợp chất phối hợp nhằm phục vụ cho chức năng sinh học quan trọng. Tuyến tụy tiết ra Insulin để phản ứng với mức glucose trong máu cao sau bữa ăn. Nếu không có insulin, glucose không thể thâm nhập tế bào, cung cấp nhiên liệu cho năng lượng tế bào. Lượng đường còn lại trong máu có thể gây ra vấn đề khi liên kết với các phân tử protein, dẫn đến cấu trúc bị bất hoạt, hư hại, trong một quá trình được gọi là glycation. Một số bằng chứng cho thấy rằng vanadi hỗ trợ quá trình trao đổi chất quan trọng vì nó có khả năng bắt chước các hoạt động của insulin.

BloodSugar
Ut enim ad minim veniam, quis nostrud exercitation ullamco laboris nisi ut aliquip ex ea commodo consequat. Duis aute irure dolor in reprehenderit in voluptate velit esse cillum dolore eu fugiat nulla pariatur.